NỘI DUNG VỤ ÁN
Vào khoảng 15 giờ ngày 20 tháng 8 năm 2024, anh Kim Thành H, sinh ngày 01/01/2001, nơi thường trú: ấp H, xã N, huyện A, tỉnh Kiên Giang điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 68B1-630.67 (xe Hưởng mượn của ông Kim Thành Đ là cha ruột của H) chạy đến nhà của bị cáo Trần Vũ L (tên thường gọi: Bọ), sinh ngày 15/9/1999, nơi thường trú: ấp Y, xã N, huyện A, tỉnh Kiên Giang chơi. Tại đây, bị cáo rủ H đi đến nhà bạn của bị cáo ở ấp F, xã N, huyện A, tỉnh Kiên Giang chơi thì anh Kim T H đồng ý, điều khiển xe chở bị cáo đến nhà bạn của bị cáo chơi nhưng không có ở nhà. Khoảng 16 giờ cùng ngày, anh Kim T H điều khiển xe chở bị cáo quay về, khi đến đoạn đường thuộc ấp F, xã N, huyện An tỉnh Kiên Giang, bị cáo nhìn thấy chiếc xe mô tô hai bánh biển kiểm soát 68B1- 327.64, nhãn hiệu: HONDA, số loại: SONIC của anh Lê Hoàng K đang đậu trong nhà, nên bị cáo nãy sinh ý định lấy trộm chiếc xe trên, bị cáo kêu anh Kim T Hưởng quay lại và nói với anh Kim Thành H là ghé cho bị cáo lấy xe mượn của bạn bị cáo, thì anh Kim T H quay lại nhà có chiếc xe đang đậu, lúc này bị cáo bước xuống xe đi vào nhà quan sát không thấy ai ở trong nhà và nhìn thấy chiếc xe SONIC có gắn sẵn chìa khóa nên bị cáo mở khóa lấy trộm chiếc xe chạy về hướng thị trấn T, huyện A, tỉnh Kiên Giang, còn anh Kim T H điều khiển xe 68B1-630.67 chạy về nhà. Toàn bộ diễn biến việc bị cáo thực hiện hành vi lấy trộm chiếc xe chiếc xe SONIC của anh Lê Hoàng K được camera an ninh của gia đình anh Lê Hoàng K ghi lại và được trích xuất phục vụ công tác điều tra.
Tại Cơ quan điều tra, bị cáo Trần Vũ L thừa nhận hình ảnh camera an ninh ghi được là của bị cáo và thừa nhận có lấy chiếc xe mô tô hai bánh biển kiểm soát 68B1- 327.64, nhãn hiệu: HONDA, số loại: SONIC, nhưng không thừa nhận hành vi trộm cắp tài sản của anh Lê Hoàng K, mà cho rằng có gọi điện thoại hỏi mượn chiếc xe trên của người bạn tên T1 và sau đó đã trả lại. Tuy nhiên, kết quả điều tra xác định chủ chiếc xe nêu trên là anh Lê Hoàng K không có quen biết với bị cáo và cũng chưa từng liên lạc qua điện thoại với bị cáo, xác minh theo lời khai của bị cáo cũng không có người bạn nào của bị cáo tên T1 ở địa chỉ nêu trên.
Tại bản Kết luận định giá tài sản số: 16/KL-HĐĐGTS ngày 12/9/2024 của
Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện A, kết luận: 01 (một) xe môtô biển kiểm soát 68B1-327.64, nhãn hiệu: HONDA, số loại: SONIC, màu sơn: Xanh-đen, số khung: 1119HK140784, số máy: KB11E1140438, bị hại khai mua vào tháng 01 năm 2018 với số tiền 68.000.000 đồng. Giá trị tại thời điểm định giá ngày 20 tháng 8 năm 2024 là 13.250.000 đồng.
Ngày 24/10/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện A, tỉnh Kiên Giang ra Quyết định trưng cầu giám định đối với đoạn Video trích xuất từ camera an ninh của gia đình anh Lê Hoàng K, tại bản Kết luận giám định số: 1164/KL- KTHS ngày 31/10/2024 của Phòng K1 Công an tỉnh K, kết luận:
– Không phát hiện thấy dấu vết cắt ghép, chỉnh sửa hình ảnh trong 02 tập tin video mẫu cần giám định.
– Đã trích xuất 10 tập tin hình ảnh trong 02 tập tin video gửi giám định, chi tiết trong bản Phụ lục kèm theo.
Kèm theo Kết luận giám định: Ban Phụ lục gồm 03 trung A4.
H1 lại đối tượng giám định: Hồ lại Cơ quan trưng cầu toàn bộ mẫu vật gửi giám định.
Về trách nhiệm dân sự: Bị hại và bị cáo thống nhất bồi thường giá trị một xe mô tô bị chiếm đoạt là 20.000.000 đồng.
Tại Cáo trạng số: 18/CT-VKSHAB ngày 03 tháng 3 năm 2025, Viện Kiểm sát nhân dân huyện An Biên, tỉnh Kiên Giang truy tố Trần Vũ L về tội trộm cắp tài sản quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự; về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, bị cáo có 01 tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự tái phạm,
không có tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, việc xử lý vật chứng, 01 USB được niêm phong trong phong bì màu trắng có dấu tròn của Phòng K1 Công an tỉnh K và có chữ ký ghi họ tên Nguyễn Hoàng P, Đàm Hoàng Di đã đưa vào hồ sơ vụ án; đối với vật chứng của vụ án là 01 (một) xe mô tô biển kiểm soát 68B1- 327.64, nhãn hiệu: HONDA, số loại: SONIC, màu sơn Xanh – đen, số khung: |119HK140784, số máy: KBILE1140438, Cơ quan điều tra đã ra thông báo và tổ chức truy tìm nhưng đến nay vẫn chưa tìm được; về trách nhiệm dân sự, bị hại anh Lê Hoàng K yêu cầu bị cáo bồi thường giá trị chiếc xe mô tô bị mất trộm với số tiền 34.000.000 đồng, bị cáo không đồng ý bồi thường.
Tại phiên toà:
– Kiểm sát viên kết luận và đề nghị: Áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm h khoản 1 Điều 52 và Điều 38 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Trần Vũ L từ 01 năm 06 tháng đến 02 năm tù về tội trộm cắp tài sản. Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 55, khoản 2 Điều 56 Bộ luật hình sự, tổng hợp hình phạt 01 tháng 13 ngày tù còn lại bị cáo chưa chấp hành của Bản án số: 52/2024/HS-ST ngày 15/9/2024 Tòa án nhân dân huyện An Biên, tỉnh Kiên Giang Buộc bị cáo Trần Vũ L (Bộ) phải chấp hành 02 bản án; về trách nhiệm dân sự, tại phiên tòa bị hại và bị cáo thống nhất bồi thường giá trị một xe mô tô bị chiếm đoạt là 20.000.000 đồng, không có yêu cầu bồi thường gì thêm nên ghi nhận.
– Bị cáo Trần Vũ L thừa nhận hành vi thực hiện như cáo trạng đã nêu và kết luận của Kiểm sát viên tại phiên tòa. Về trách nhiệm dân sự, bị cáo đồng ý bồi thường cho bị hại giá trị một chiếc xe mô tô bị chiếm đoạt của anh Lê Hoàng K là 20.000.000 đồng. Lời nói sau cùng, bị cáo xin lỗi người bị hại và xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để bị cáo sớm về lo làm bồi thường cho bị hại anh Lê Hoàng K.
– Bị hại anh Lê Hoàng K thống nhất giá trị một chiếc xe mô tô bị chiếm, buộc bị cáo bồi thường giá trị một chiếc xe là 20.000.000 đồng, không có yêu cầu bị cáo bồi thường gì thêm và đề nghị xử lý bị cáo theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[I] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện An Biên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo và bị hại không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp. [2] Tại phiên tòa, bị cáo Trần Vũ L (Bo) khai nhận đã thực hiện hành vi như Cáo trạng đã nêu. Lời khai nhận của bị cáo phù hợp với lời khai trước đó tại Cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của bị hại và người làm chứng cùng các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, đủ cơ sở kết luận: Vào khoảng 15 giờ ngày 20 tháng 8 năm 2024, bị cáo đi chơi đến đoạn đường thuộc ấp F, xã N, huyện A. tỉnh Kiên Giang nhìn thấy chiếc xe mô tô hai bánh biển kiểm soát 68B1-327.64, nhãn hiệu: HONDA, số loại: SONIC của anh Lê Hoàng K đang đậu trong nhà, bị cáo có ý định trộm cấp, đi vào nhà của anh Lê Hoàng K quan sát không thấy ai ở trong nhà và nhìn thấy chiếc xe có gắn sẵn chia khóa, bị cao mở khóa lấy trộm chạy về hướng thị trấn T, huyện A, tỉnh Kiên Giang có ý định bán lấy tiền tiêu xài cá nhân, tại Kết luận định giá tài sản số; 16/KL-HĐĐGTS ngày 12/9/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện A kết luận: 01 xe mô tô biển kiểm soát 68B1-327.64, nhãn hiệu: HONDA, số loại: SONIC, màu sơn Xanh – đen, số khung: 1119HK140784, số máy: KB11E1140438, của bị hại mua vào tháng 01 năm 2018 với số tiền 68.000.000 đồng, giá trị tại thời điểm định giá ngày 20 tháng 8 năm 2024 là 13.250.000 đồng; xác định được hành vi của bị cáo đã cấu thành tội trộm cắp tài sản theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự. Do đó, Viện kiểm sát nhân dân huyện An Biên truy tố bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật.Khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự quy định: Người nào trộm cắp tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp từ điểm a đến điểm d thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm. Hành vi của bị cáo Trần Vũ L (B) là nguy hiểm cho xã hội, bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự và có 03 tiền án về tội trộm cắp tài sản, lợi dụng chủ sở hữu tài sản không cảnh giác, bị cáo lén lút vào nhà anh Lê Hoàng K quan sát không thấy ai chiếm đoạt chiếc xe mô tô của anh Lê Hoàng K là xâm phạm quyền sở hữu tài sản hợp pháp của anh Lê Hoàng K được xác định với lỗi cố ý, là tái phạm theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự (Các lần xét xử trước không áp dụng tình tiết tái phạm đối với bị cáo). Trong quá trình điều tra và truy tố, bị cáo không có thái độ thành khẩn khai báo, không thừa nhận hành vi trộm cắp tài sản của anh Lê Hoàng K mà bị cáo xác định bị cáo và anh Lê Hoàng K là bạn bè, bị cáo điện thoại hỏi mượn xe của anh Lê Hoàng K; bị cáo rất xem thường pháp luật, gây mất an ninh, trật tự, an toàn xã hội, gây bất bình trong nhân dân. Do đó, chấp nhận đề nghị của Kiểm sát viên, xử phạt bị cáo một mức án thật nghiêm khắc để có thời gian cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành người tốt, sống có ích cho xã hội: biết tôn trọng bảo vệ tài sản hợp pháp của người khác và cũng nhằm ngăn ngừa chung trong xã hội thực hiện hành vi tương tự bị cáo.
Hội đồng xét xử cũng thấy rằng, tại phiên tòa hôm nay bị cáo thành khẩn khai báo, thừa nhận hành vi trộm cắp chiếc xe mô tô của anh Lê Hoàng K nhằm mục đích bán lấy tiền tiêu xài cá nhân; đồng ý bồi thường cho anh Lê Hoàng K theo yêu cầu của anh Lê Hoàng K nhưng bị cáo chưa bồi thường nên áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo theo quy định tại khoản 2 Điều 51
Bộ luật hình sự.
[3] Về trách nhiệm dân sự: Tại phiên tòa bị hại anh Lê Hoàng K và bị cáo thống nhất bồi thường giá trị một xe mô tô bị chiếm đoạt cho anh Lê Hoàng K là 20.000.000 đồng nhưng bị cáo chưa bồi thường nên ghi nhận, buộc bị cáo bồi thường cho bị hại anh Lê Hoàng K giá trị một xe mô tô bị chiếm đoạt là 20.000.000 đồng. [4] Về án phí, bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và điểm a, điểm (khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 173, khoản 2 Điều 51, điểm b khoản 1 Điều 52 và Điều 38 Bộ luật hình sự.
Tuyên bố: Bị cáo Trần Vũ L (B) phạm tội trộm cắp tài sản.
Xử phạt bị cáo Trần Vũ L (Bo) 01 (Một) năm 06 (5) tháng tù, Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 55, khoản 2 Điều 56 Bộ luật hình sự, Tổng hợp hình phạt 01 tháng 12 ngày tù còn lại bị cáo chưa chấp hành (01 năm tù, đã chấp hành 10 tháng 18 ngày tù) của Bản án số: 52/2024/HS-ST ngày 15/9/2024 Tòa án nhân dân huyện An Biên, tỉnh Kiên Giang. Buộc bị cáo Trần Vũ L (B) phải chấp hành 02 bản án là 01 (Một) hoặc tnăm 07 (B1) tháng 12 (Mười hai) ngày tù, thời hạn tù tính kể từ ngày xét xử sơ thẩm 15/5/2025,
Về trách nhiệm dân sự: Tại phiên tòa bị hại anh Lê Hoàng K và bị của thống nhất bồi thường giá trị một xe mô tô bị chiếm đoạt là 20.000.000 đồng nhưng bị cáo chưa bồi thường nên ghi nhận, buộc bị cáo bồi thường cho bị hại anh Lê Hoàng K giá trị một xe mô tô bị chiếm đoạt là 20.000.000 đồng.
Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật, có đơn yêu cầu của người được thi hành án nếu người phải thi hành án không thi hành hi hành không đủ số tiền nêu trên thì hàng tháng người phải thi hành án còn phải trả cho người được thi hành án một khoản tiền lãi theo quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự với số tiền và thời gian chậm thi hành án.
Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và điểm a, điểm i khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo Trần Vũ L (B) phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 đồng và án phí dân sự sơ thẩm là 1.000.000 đồng (20.000.000 đồng x 5%).
Về quyền kháng cáo: Bị cáo và bị hại có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án 15/5/2025.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Văn phòng luật sư Trần Toàn Thắng hổ trợ bị can bị cáo trong các vụ hình sự.
- Thành lập văn phòng đại diện công ty nước ngoài tại Việt Nam
- Thế nào là phạm tội cướp tài sản có tính chất chuyên nghiệp?
- Tranh chấp quyền sử dụng đất tại tỉnh Bình Định.
- Va quẹt dẫn đến tình trạng đâm chém nhau.
- Thêm tình tiết tăng nặng cho nhóm thanh niên chống người thi hành công vụ tại Buôn Ma Thuột





